Thứ Năm, 30 tháng 6, 2016

NƯỚC MẮM BAO NHIÊU PHẦN TRĂM ĐỘ ĐẠM LÀ NƯỚC MẮM THẬT?

Tình hình các công ty sản xuất nước mắm chạy theo lợi nhuận đang đầu độc dân Việt, vì cái văn hóa ăn nước mắm mà dân không hay biết. Hôm nay tình cờ đọc bài: Sự thật về nước mắm: Nước mắm công nghiệp đánh bại nước mắm cá cơm. Nên tôi phải viết một bài đứng trên cơ sở khoa học để giải thích đâu là nước mắm thật, đâu là nước mắm giả với hóa chất, và có khi được pha với phân u rê!
Bất kỳ ai đã từng học chương trình hóa học phổ thông đều có học hóa hữu cơ. Trong chương trình hóa hữu cơ có phần học acide amine - amino acide - còn gọi là thành phần chính để tạo ra protein, protide hay dân mình thường gọi là đạm. Các loại acide hữu cơ có chung một gốc COOH - 1 nguyên tử carbon, 2 nguyên tử Oxy và 1 nguyên tử Hydro. Nhưng gốc chính để nhận biết các acide hữu cơ khác với amino acide là ở gốc NHn. Gốc NHn gồm có 1 nguyên tử Ni tơ và n nguyên tử Hydro gắn nhau với liên kết đơn, với n có thể bằng 0, 1 hoặc 2. Nó là gốc mà dân trong ngành gọi là gốc Ni tơ, hay còn gọi là gốc đạm. Tùy theo loại amino acide mà có thể có một hay nhiều gốc NHn. Ví dụ Arginine có 4 gốc NHn, trong đó có 3 gốc NH2 và 1 gốc NH; Histidine thì có 3 gốc NHn, trong đó có 1 gốc NH2, 1 gốc NH và 1 gốc N.(Xem hình mình họa ở dưới)
Cũng giống như con người, cơ thể cá 70% trọng lượng là nước, 30% còn lại là protid, lipid, muối khoáng ở dạng vi lượng(điện giải), và sinh tố. Cho nên nước mắm là nước chấm truyền thống của người Việt giàu chất dinh dưỡng nhất, kể cả iode, mà không phải quốc gia nào cũng có được.
Con cá nói riêng, hải sản nói chung rất ít mỡ, vì nó bơi hoài ngay cả trong lúc ngủ. Khác với loài động vật trên cạn ngủ thì nằm yên, nên nồng độ mỡ nhiều hơn hải sản. Vì thế cho nên những ai bị bệnh Goute, bác sỹ thường khuyên giảm ăn hải sản. Do Goute là bệnh từ nguyên nhân ứ đọng acide Uric trong máu quá ngưỡng cho phép, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà acide uric lại là sản phẩn chuyển hóa từ đạm, hay nói cách khác từ amino acide.
Cá càng mập, hay nhiều thịt thì nồng độ đạm cũng chỉ cao nhất theo tỷ lệ phần trăm đã được phân bố 1 cách khoa học cho cơ thể là, không thể bằng 30% trọng lượng cơ thể con cá. Khi làm nước mắm còn cho muối vào, nên nồng độ đạm phải giảm xuống còn dưới 30% của tổng trọng lượng 100ml nước mắm. Nên nước mắm thật làm từ cá nếu bị phơi nắng, cô đặc thì cao lắm là trong 100ml nước mắm chỉ có thể có 30gram protein, thì gọi là nước mắm 30 độ đạm. Không thể có nước mắm mà nồng độ đạm hay nồng độ Ni tơ lên đến hơn 30%.

Để cụ thể hóa cho dễ hiểu, ta hãy cứ cho tất cả 30% trọng lượng còn lại là Protid trong cá + muối sẽ bằng trọng lượng lúc vào mắm. Theo công thức lắm mắm truyền thống là, 1 muối 3 cá thì lúc đó trọng lượng của protid chỉ còn dưới 25%, mà trong muối có nước và Nacl và các yếu tố vi lượng khác.

Ví dụ, 1kg cá + 300gr muối, và cứ cho 30% còn lại tất cả là protid, mà không có lipid và sinh tố, điện giải, thì tỷ lệ protid sẽ là: 300gr/1.300gr thì = 23% độ đạm. Nếu cô đặc do bốc hơi còn 1200gr thì lúc đó nồng độ protid cũng bằng 300/1200 = 25% độ đạm. Chỉ khi nào cô đặc chỉ còn 1000gr thì nồng độ đạm mới được 30%. Nhưng như thế thì nước mắm quá mặn, nước mắm không thể ngon được.
Thời buổi công nghiệp, người ta sợ ăn mỡ vì thiếu hiểu biết của cả thầy thuốc cũng như bệnh nhân, nên nghe nói nước mắm có nồng độ Ni tơ hay nồng độ đạm cao là mê tít mắt. Lợi dụng yếu tố này, một số công ty mỵ dân là để thêm cái con số 40%, thậm chí 50%, có chỗ lên đến 80% độ đạm!
Có hai lý do mà nước mắm có nồng độ đạm cao như quảng cáo ở trên:
Thứ nhất là quảng cáo láo, nhưng nước mắm được làm thật chỉ có nồng độ đạm chỉ 10 hoặc 20% mà thôi. Nhưng dù sao cũng là nước mắm thật, không độc hại.
Thứ hai là, nước mắm có đúng nồng độ đạm cao như quảng cáo hoặc thấp hơn một chút, nhưng chỉ toàn là nước muối, phẩm màu và phân U rê - Urea - hoặc là men hóa học, hóa chất có nguyên tố Ni tơ pha vào để khi đo nồng độ đạm sẽ cao. Vì ai cũng biết, phân tử U rê có gốc amonia - NH3. Cũng là ni tơ, cũng là đạm, nhưng đạm ở đây là hóa chất tổng hợp trong công nghiệp.
Việc sử dụng hóa chất công nghiệp có gốc Ni tơ làm nước mắm có tác hại cho cơ thể con người như thế nào, thì tùy theo hóa chất được pha. Nhưng chắc chắn là không thể vô hại như nước mắm thật truyền thống làm từ sinh vật là cá, muối và ủ từ 4 đến 6 tháng dưới trời nắng như ngư dân Việt vẫn làm từ bao đời nay.
Có nhiều cách phân biệt nước mắm thật và giả. Trong đó, nước mắm thật mùi thơm đặc trưng, và độ châm chích đầu lưỡi khi ăn nước mắm, do đạm của cá đã được phân hủy thành các amino acide mà có thể làm cho những người có cơ địa dị ứng, có thể bị dị ứng sưng cả môi của mình. Còn nước mắm hóa học pha chế thì không bao giờ có được 2 điều này.
Đừng nên chết vì thiếu hiểu biết, chỉ vì nghe lời quảng cáo xằng bậy của các công ty hám lợi, mất nhân tính. Chúc mọi người ăn lễ giáng sinh vui vẻ, và đừng quên khi làm bữa tiệc giáng sinh có nước mắm thật.
Asia Clinic, 18h44' ngày thứ Hai, 23/12/2013

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2016

Thương hiệu dẫn đầu trong lĩnh vực nước mắm truyền thống

Thương hiệu dẫn đầu trong lĩnh vực nước mắm truyền thống.


Trong điều kiện kinh tế còn khó khăn do tác động của khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang thời gian qua vẫn thiết lập được thị trường trên 50 tỉnh thành cả nước với tất cả các hệ thống kênh bán lẻ, Coopmart, Big C… đồng thời thâm nhập thị trường quốc tế như Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippin, Châu Âu…Đây là dấu ấn mang tính đột phá thể hiện uy tín thương hiệu của nước mắm 584 Nha Trang. Bên cạnh đó, là doanh nghiệp nước mắm duy nhất tại tỉnh Khánh Hòa đạt 2 lần liên tiếp giải thưởng Sao Vàng Đất Việt cũng minh chứng cho thành công của Công ty.

Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang tiền thân là doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) thuộc Bộ Thủy sản, được thành lập năm 1977, với nhiệm vụ sản xuất nước mắm để cung ứng cho các địa phương trong nước. Do việc sản xuất mang tính bao cấp nên sản phẩm, chất lượng nước mắm của Công ty chưa tạo được ấn tượng đối với người tiêu dùng. Bên cạnh đó, với cơ sở vật chất hạn chế, nhà xưởng, trang thiết bị lạc hậu...lại thêm việc sản xuất kinh doanh không hiệu quả nên trong một thời gian dài sự phát triển của Công ty gặp nhiều khó khăn, trở ngại.
Sau năm 1990, khi nền kinh tế đã chuyển sang cơ chế thị trường, đơn vị được chủ động hơn trong sản xuất-kinh doanh (SX-KD), hoạt động của Công ty bắt đầu bước sang một chặng đường mới. Với quyết tâm xây dựng thương hiệu, tạo sự thay đổi về chất lượng, hình ảnh sản phẩm, đem đến cho người tiêu dùng sự tiện lợi, Công ty tập trung đầu tư, nghiên cứu bao bì, nhãn mác cho sản phẩm đồng thời đẩy mạnh các hoạt động mở rộng thị trường. Cùng với bước tiến đó, sản phẩm nước mắm đóng chai của Công ty lan tỏa đến nhiều tỉnh, thành cả nước, sức mua tăng, sự tin dùng của khách hàng ngày càng lớn. Danh hiệu Hàng Việt Nam Chất lượng cao năm 2000 do người tiêu dùng bình chọn mang đến cho Công ty nhiều bất ngờ về sự đón nhận của khách hàng và là sản phẩm nước mắm đầu tiên nhận được danh hiệu này vào thời điểm đó. 

Bước đột phá mới

Năm 2006, với chủ trương đổi mới DNNN, đơn vị thực hiện việc cổ phần hóa doanh nghiệp. Nhờ vậy, hoạt động SXKD của đơn vị đã có những bước tiến mạnh mẽ, chuyên nghiệp, tự chủ hơn. Công ty xây dựng chiến lược đầu tư đổi mới nguồn nhân lực để tập trung cho việc phát triển chất lượng sản phẩm, phát triển thương hiệu, liên tục cải tiến quy trình sản xuất, luôn đi đầu trong việc nghiên cứu và sản xuất thành công các loại nước mắm chất lượng cao, đầu tiên là nước mắm có 35 độ đạm, rồi đến 40 độ đạm và hiện nay đã sản xuất thành công nước mắm 60 độ đạm. Với một tập thể đoàn kết, gắn bó, tâm huyết với nghề nghiệp, kết quả SXKD của đơn vị luôn duy trì tốt tốc độ tăng trưởng từ 15-20%, ngay cả trong giai đoạn kinh tế suy thoái và hoạt động của đơn vị gặp phải những khó khăn về vốn, mặt bằng sản xuất. 

Sau năm 2010, kinh tế đất nước hội nhập sâu rộng hơn, lãnh đạo đơn vị nhận định và đề ra chiến lược xuất khẩu sản phẩm, bước đầu là nâng cao và đảm bảo chất lượng sản phẩm phải đạt các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm. Với nhiều nỗ lực trong một thời gian vừa hoạt động vừa tranh thủ đầu tư cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, cải tạo quy trình, nâng cao trình độ cho công nhân, cán bộ quản lý, đến năm 2013, đơn vị đã hoàn thành và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 22000:2005 và được Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản cấp giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Từ đây mở ra một chặng đường mới trong việc đưa sản phẩm đến thị trường ngoài nước, kết quả doanh thu năm 2013 đạt 117 tỷ đồng, với sản lượng 3,5 triệu chai nước mắm, tạo thu nhập bình quân người lao động 6,5 triệu đồng, nộp ngân sách nhà nước 6,3 tỷ đồng. 

Động lực và cốt lõi của sự thành công

Với chủ trương đổi mới DNNN, cổ phần hóa doanh nghiệp của Đảng và Chính phủ đã “cởi trói”, tạo động lực, trao cho đơn vị quyền tự chủ, tự quyết trong mọi hoạt động của mình, tự nắm bắt và tận dụng cơ hội. Cùng với đó là chiến lược phát triển được xây dựng một cách cẩn trọng, đề cao tính hiệu quả dựa trên nền tảng đoàn kết nội bộ; khơi dậy niềm say mê cống hiến, nhiệt huyết và trách nhiệm; biết xác định lấy sự hài lòng của khách hàng làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình; biết lấy thành công của tập thể làm thành công cho mình.

Nguồn nhân lực và văn hóa doanh nghiệp luôn là vấn đề cốt lõi của mọi doanh nghiệp. Đối với 584 Nha Trang, trong tình hình kinh tế khó khăn những năm gần đây ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động SX-KD của đơn vị cũng như đời sống, việc làm người lao động tuy vậy người lao động vẫn luôn nỗ lực đồng hành với Công ty, thậm chí vẫn quyết tâm gắn bó ngay cả khi việc làm, đồng lương có sa sút. Một điều cốt lõi nữa là việc duy trì tốt phương châm kinh doanh. Trong một thời gian dài khi sản phẩm nước mắm công nghiệp bắt đầu xâm lấm thị trường, đánh lừa nhận thức của người tiêu dùng, nhiều doanh nghiệp sản xuất nước mắm truyền thống trở nên điêu đứng, chịu tổn thất đáng kể, và cũng xoay theo sức hút của lợi nhuận. Tuy vậy, đơn vị vẫn kiên trì với mục tiêu của mình, càng nỗ lực phát triển chất lượng sản phẩm để minh chứng nước mắm truyền thống mới là giá trị thật mà khách hàng cần đến, một sản phẩm văn hóa lâu đời của người Việt không thể thay đổi.

Tăng sức cạnh trạnh và phát triển bền vững
Ông Đỗ Hữu Việt – Tổng giám đốc Công ty Cổ Phần Thủy sản 584 Nha Trang chia sẻ: Nước mắm là một trong những gia vị không thể thiếu trong bữa cơm của người Việt, có trên 98% gia đình Việt sử dụng nước mắm. Đây là một thị trường rộng lớn với hàng trăm hãng nước mắm đua nhau cạnh tranh, đặc biệt là cuộc cạnh tranh gay gắt giữa nước mắm truyền thống và nước mắm pha chế công nghiệp. Cùng với những khó khăn khác như vốn, lao động, mặt bằng...đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở sản xuất, hộ gia đình sản xuất nước mắm truyền thống đang đứng trước những thách thức lớn trong sự tồn tại, phát triển. Trong bối cảnh đó, công ty 584 Nha Trang đã có những giải pháp kịp thời và hiệu quả: Gia tăng giá trị sản phẩm về hình thức, mẫu mã bắt mắt, bao bì chất lượng, sang trọng; mở rộng phân phối, tiếp thị sản phẩm, đưa sản phẩm có mặt rộng khắp từ siêu thị đến các cửa hàng tạp hóa trong khu dân cư và có mặt hầu hết khắp các chợ lớn, nhỏ. Tăng cường công tác truyền thông quảng cáo, quảng bá thương hiệu, đặc biệt trong xu hướng tiêu dùng xanh, sạch ngày càng lan rộng và phổ biến, chú trọng truyền thông đến khách hàng nước mắm 584 Nha Trang chỉ có ba thành phần cơ bản, gồm đạm, nước và muối, không dùng chất bảo quản. Đẩy mạnh, xúc tiến việc xuất khẩu sản phẩm sang các thị trường trọng tâm: Nhật Bản và Hàn Quốc.
Song song đó, Công ty chú trọng thay đổi phương thức bán hàng và chăm sóc khách hàng hơn. Mặc dù đã có những sự đầu tư cần thiết trong thời gian qua nhưng phương thức dịch vụ bán hàng, chăm sóc khách hàng của 584 Nha Trang vẫn còn bộc lộ hạn chế, chưa thật sự tạo hiệu quả. Bên cạnh đó, thị trường nước mắm với xu hướng cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt, công việc kinh doanh ngày càng trở nên khó khăn hơn. Do vậy, giải pháp cho chiến lược phát triển thương hiệu của Công ty là làm thế nào để khách hàng biết đến sản phẩm 584 Nha Trang ngày càng nhiều hơn và làm thế nào để khách hàng trung thành với Công ty hơn. Vừa chú trọng đến các chiến lược tiếp thị ngắn hạn theo chiều rộng để thúc đẩy bán hàng, vừa chú trọng đến chiến lược thương hiệu dài hạn theo chiều sâu để xây dựng thương hiệu mạnh. Cái gốc của thương hiệu mạnh là uy tín của sản phẩm, sự bền vững của chất lượng.
Thời gian tới, ông Việt cho biết với chiến lược kinh doanh đa dạng và phát triển bền vững, 584 Nha Trang tiếp tục phấn đấu trở thành doanh nghiệp sản xuất, chế biến nước mắm hàng đầu, sản phẩm nước mắm đa dạng, phong phú, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia và quốc tế để phù hợp với thị hiếu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường nội địa và xuất khẩu.

Theo báo Vietnam Business Forum – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015

CÔNG DỤNG CỦA CHUỐI HỘT RỪNG

CÔNG DỤNG CỦA CHUỐI HỘT RỪNG

Chuối hột rừng là một loại chuối cho trái có rất nhiều hột, mọc ở rừng. Đặc điểm rất đáng chú ý là trái chuối hột rừng có rất nhiều hột, khi chín có màu vàng rất đẹp. Trái chuối hột càng nhỏ càng có nhiều nhựa, càng có nhiều chức năng chữa bệnh. Người dân tộc thường dùng chuối hột rừng để ngâm rượu uống rất ngon, nay trở thành bài thuốc được nhiều người sử dụng. Chuối hột rừng xắt mỏng, phơi khô, ngâm với rượu cao độ, càng lâu càng tốt, cho ra một loại rượu có màu vàng tươi đẹp, giống màu rượu ngoại, uống thơm và bổ dưỡng, có thể trị bệnh đau lưng nhức mỏi.



Một số tác dụng của chuối hột rừng:

Toàn thân cây chuối hột rừng đều có thể làm thuốc chữa nhiều loại bệnh khác nhau. Trái chuối hột rừng có tác dụng chữa bệnh tiểu đường, viêm thận, tăng huyết áp. Có bài thuốc dân gian cho rằng khoét cây chuối hột rừng ở gần gốc, lấy nước từ thân cây uống, sẽ giúp hạ đường huyết tự nhiên với người bị bệnh tiểu đường.

1) Trị sỏi thận, sỏi bàng quang:

Hạt chuối hột rang giòn, giã nát, sắc uống. Uống liên tục trong nhiều ngày, sỏi rã hết thành những viên nhỏ. Kết quả rất tốt. Muốn kiểm tra hiệu quả, sau khi uống thuốc, đi tiểu trong bô, sẽ thấy cặn sỏi dưới đáy bô.

2) Trị táo bón ở trẻ:

1-2 trái chuối hột rừng chín, nướng lên cho trẻ ăn, khoảng mươi phút sau là đi đại tiện được.

3) Trị sỏi bàng quang:

Trái chuối hột rừng xanh xắt mỏng, sấy khô, sao vàng, hạ thổ trong vài ngày, mỗi lần dùng 50-100 g, sắc uống 2 lần trong ngày.

4) Trị bệnh gút:

Quả chuối hột rừng 3 g, củ ráy rừng 4 g, khổ qua 1 g, tì giải 2 g. Sao vàng hạ thổ, sắc uống.

5) Trị hắc lào:

Lấy nhựa từ trái chuối hột xanh bôi vào chỗ bị hắc lào sẽ bớt bệnh.

6) Chữa viêm loét dạ dày:

Quả chuối hột phơi khô, tán bột mịn, dùng uống hằng ngày.

7) Xổ giun:

Ăn quả chuối hột chín lúc đói, đẩy được giun ra ngoài.

Hoa chuối có vị hơi chát và ngon ngọt, là món ăn chữa bệnh rất tốt, những phụ nữ mới sinh con, thiếu sữa nên ăn hoa chuối (luộc, làm nộm…). Ăn hoa chuối hoặc sắc nước uống làm thông tiểu, nước tiểu trong, giúp thận hòa tan các loại axít dễ đóng cặn trong thận và bàng quang. Hoa chuối cũng là nguồn bổ sung chất xơ rất tốt thay cho các loại rau khác.

Cách ngâm rượu chuối hột rừng

1) Cách thứ nhất:

Chuối phải thật chín, thái mỏng, phơi nắng (nhớ là phải giữ không cho ruồi nhặng bu vào và bụi bay vào), phơi càng khô càng tốt.
Rượu ngâm phải là rượu trắng, không pha tạp (thường gọi là rượu cốt,rượu nguyên chất, nồng độ phải > 40 độ).

Đồ ngâm rượu phải là thủy tinh, rửa sạch. Bỏ chuối vào, chuối chiếm 1/3 lọ, đổ rượu đầy 2/3 lọ, để lại 1/3 chân không cho chuối nở. Đậy kỹ nắp, 100 (3 tháng 10 ngày) ngày sau là uống được , để càng lâu càng tốt.

Rượu chuối hột được xếp vào loại rượu thuốc, không nên ngâm uống để nhậu xỉn.

Rượu chuối hột để hỗ trợ điều trị bệnh sạn thận, bổ thận: liều lượng mỗi bữa ăn 1/2 tách uống trà (10 – 20ml).

Các vị thuốc gia giảm phải theo từng người: cao, hạ huyết áp, nhiệt, hàn, cần bổ khí, cần bổ huyết… không nên tùy tiện dùng sẽ phản tác dụng.

2) Cách thứ hai:

Trải (1 lớp) trên nong nia phơi vài nắng (nắng tốt khoảng 5 nắng, mùa mưa thì phơi lâu hơn), nhớ lật mặt cho khô đều.

Dùng hủ thủy tinh loại lớn (khoảng 5lít -> 10 lít). Xếp nhẹ nhàng từng lớp chuối đã phơi xong vào hũ. Đổ ngập mặt bằng rượu trắng loại 60 độ trở lên. Dùng bao ni lông bọc kín miệng hủ, ngâm khoảng 3 tháng, thấy màu rượu chuyển dần thành màu vàng như Uýt-ky là uống được.

Người không biết uống rượu thì uống loại nguyên chất (rất ngọt). "Dân nhậu" thì pha thêm rượu trắng cho bớt ngọt. Uống tới đâu chắt rượu ra tới đó, phần còn lại vẫn để tiếp tục ngâm (ngâm càng lâu càng ngon), có thể bổ sung thêm rượu cao độ để bù số rượu đã chắt ra (đổ ngập mặt trái chuối trên cùng).

Thành phần có nhiều vị thuốc. Công dụng chủ yếu tốt cho đường ruột.

Uống ít thấy ngọt ngay, uống nhiều thấy say, tiếp tục uống thì lăn quay.

3) Cách thứ ba:

Hiện nay trên một số trang mạng có tư vấn về cách ngâm và sử dụng rượu chuối hột, cái này thì tùy theo sở thích và nhu cầu của mỗi người. Tuy nhiên, nhìn chung thì đều làm như sau :

Bước thứ 1 : Chuối hột lựa trái vừa chín , vỏ vàng đều là được. sau đó rửa sạch, thái mỏng cỡ 1 phân.

Phơi trên lưới hay trên nong( nia) tre, nhớ trên có đậy thêm lớp lưới nữa chống bụi và côn trùng bu ào, phơi khô cho đến khi nào lát chuối săn lại, bẻ làm hai có vết nứt là được.

Bước thứ 2 :

Đem chuối hột đã phơi khô, nhúng vào nước đang sôi khoảng 5 phút, sau đó vớt ra, ngâm với rượu nặng 40 độ theo tỉ lệ: 1kg chuối ngâm với 3 lít rượu. Tốt nhất là ngâm trong lọ thủy tinh, cái này thì mua dễ, bình 3 lít khoảng 40.000đ. Và nhớ là phải đậy nắp kỹ để chống rượu bốc hơi đấy.

Bươc thứ 3 :

Rượu ngâm khoảng 50 ngày là dùng được, còn muốn dùng ngon thì bạn chờ cho đến khi nào dưới đáy lọ có phủ một lớp bột trắng nhờ, lúc này thì dùng ngon tuyệt vì đã đến độ chín của rượu , chuối cũng đã phân hủy hết phần cơm của nó .
Còn cách sử dụng thì tùy tửu lượng nhưng tốt nhất 150ml đến 200ml trong 1 ngày

4) Cách thứ tư:

* Cách ngâm rượu chối hột ngon: -Chuối phải thật chín, thái mỏng, phơi nắng nhớ là phải giữ không cho ruồi nhặn bu vào và bụi bay vào, phơi càng khô càng tốt.
- Rượi ngâm phải là rượu trắng, ko pha tạp (thường gọi là rượu cốt, rượu nguyên chất, nồng độ phải > 40 độ)

- Đồ ngâm rượu phải là thủy tinh, rửa sạch. Bỏ chuối vào, chuối chiếm 1/3 lọ, đổ rượi đầy 2/3 lọ, để lại 1/3 chân không cho chuối nở. Đậy kỷ nắp , 100 ngày sau là uống được , để càng lâu càng tốt .
Rượu chuối hột được xếp vào loại rượu thuốc, không nên ngâm uống để nhậu xỉn. Rượu chuối hột để hỗ trợ điểu trị bệnh sạn thận, bổ thận:

Liều lượng mỗi bữa ăn 1/2 tách uống trà. Các vị thuốc gia giảm phải theo từng người: cao, hạ huyết áp, nhiệt, hàn, cần bổ khí, cần bổ huyết …không nên tùy tiện dùng sẽ phản tác dụng.

Vậy là bạn đã biết công dụng của chuối hột rừng và mua chuối hột rừng ở đâu rồi nhé, còn chần chờ gì nữa hãy gọi ngay: 0593.888.777 - 0913.409.397 để có những ký chuối hột rừng khô ngon nhất.

ĐC: 242 Phan Đình Phùng, P.Yên Đỗ, TP.Pleiku, Gia Lai

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

Khoai tây que (Vị muối)

Tên hàng hóa: Khoai tây que (Vị muối)
Mã số: 8934803027624
Nhà sản xuất: Công ty CP Li WayWay Việt Nam (Oishi)
Quy cách: 1.35Kg (27g x 50 gói)
Giá bán gói: 5.000 đồng
Giá bán thùng: 240.000 đồng
Tình trạng: Hàng mới về
Giao hàng miễn phí khu vực Gia Lai.
Thanh toán khi nhận hàng hoặc chuyển khoản:
TK: 029 10000 80005
Ngân hàng CP Ngoại thương Việt Nam (VCB). CN Gia Lai.
Chủ TK: Nguyễn Thanh Bình
Liên hệ: 0593.888.777 - 0913.409.397
www.facebook.com/BanhkeoDaiPhat



Khoai tây que (Vị tảo biển)



Tên hàng hóa: Khoai tây que (Vị tảo biển)
Mã số: 8934803027617
Nhà sản xuất: Công ty CP Li WayWay Việt Nam (Oishi)
Quy cách: 1.35Kg (27g x 50 gói)
Giá bán gói: 5.000 đồng
Giá bán thùng: 240.000 đồng
Tình trạng: Hàng mới về
Giao hàng miễn phí khu vực Gia Lai.
Thanh toán khi nhận hàng hoặc chuyển khoản:
TK: 029 10000 80005
Ngân hàng CP Ngoại thương Việt Nam (VCB). CN Gia Lai.
Chủ TK: Nguyễn Thanh Bình
Liên hệ: 0593.888.777 - 0913.409.397
www.facebook.com/BanhkeoDaiPhat
Khoai tây que (Vị tảo biển)

Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

Thương thầm bánh ít lá gai

Thương thầm bánh ít lá gai

Nếu ai có dịp dự đám cúng, giỗ ở Bình Định, Phú Yên khi ra về thế nào cũng được nhận một gói quà mang về là chiếc bánh ít lá gái.
Nguyên liệu để làm bánh ít lá gai rất rẻ và dễ kiếm: lá gai, bột nếp, dầu phụng, dừa, và đậu xanh, nhưng để làm được một chiếc bánh ngon đòi hỏi phải qua nhiều công đoạn với người làm bánh thật khéo léo.  
Lá gai là lá của loại cây một mặt xanh, một mặt trắng bạc, hơi thô nhám. Chọn lá mướt, không bị sâu, đem  rửa sạch, luộc chín, để  ráo nước rồi giã cho thật nhuyễn, mịn như bột.

Những chiếc lá gai, nguyên liệu quan trọng để làm nên bánh ít thơm ngon.

Nếp vo sạch, ngâm khoảng 3 - 4h rồi đem xay. Sau đó đăng bột bằng cách cho bột nếp vào trong một chiếc túi vải, buộc chặt lại treo lên hoặc dùng một phiến đá đè lên bên trên để nước bên trong thoát ra ngoài, chỉ còn lại phần bột nếp.
Cho bột nếp, lá gai đã giã nhuyễn và đường đã thắng dẻo vào cối, tiếp tục quết mạnh cho hỗn hợp bột nếp, lá gai, đường hòa quyện vào nhau. Khi quết  phải thoa dầu phụng sống vào đầu chày thường xuyên để bột khỏi dính và dầu được trộn đều vào bột.
Nhân bánh gồm đậu xanh, dừa và đường. Dừa được bào thành sợi, bỏ vào chảo xào chung với đường cho chín tới rồi cho đậu xanh đã nấu chín, bóc vỏ, thêm tí gừng vào xào chung với lửa nhỏ, đến khi nào hỗn hợp chuyển sang màu vàng sậm là được. Nhưng khác với các loại bánh khác, nhân bánh ít lá gai không giữ phần quan trọng, không quý bằng phần bánh lá gai bọc quanh.

Bánh ít lá gai đậm đà thơm ngọt  là một trong muôn vàn loại bánh tuyệt vời của quê nhà làm nao lòng những ai tha hương tìm về nỗi nhớ quê.

Chia bột thành từng miếng nhỏ, cho nhân vào bên trong, vo tròn, thoa đều bánh bằng dầu phộng đã thắng chín. Bánh được gói hình tháp vuông bằng lá chuối. Những chiếc lá đã được cắt vuông, tỉa tròn ở các cạnh và đem phơi nắng cho mềm để khi gói bánh không bị rách ( hoặc có thể hơ trên than hồng cho nhanh). Công đoạn cuối cùng là đem bánh hấp cách thủy cho chín.
Bánh ít lá gai rất dẻo nhưng không dính răng, ăn nhiều không sợ đau bụng vì trong lá gai có vị thuốc trị đau bụng. Cắn một miếng, vị ngọt của đường, vị dẻo thơm của nếp và lá gai, vị béo giòn của dừa, vị bùi của đậu xanh, hương cay nồng của gừng tạo nên một cảm giác khoái khẩu không thể quên được.  

Quây quần xóm giềng cùng làm bánh.

Bánh ít lá gai chỉ được làm trong các dịp cúng, giỗ để con cháu thể hiện sự hiếu thảo với cha mẹ, ông bà tổ tiên đã khuất, bởi làm nó tuy không tốn nhiều chi phí nhưng rất tốn công . Trước ngày cúng, giỗ, bà con hàng xóm tụ họp cùng nhau phụ giúp làm bánh, vừa làm vừa trò chuyện, tạo nên không khí gia đình đầm ấm. Đó là một nét văn hóa truyền thống lâu đời đáng được trân trọng và gìn giữ. Bánh ít lá gai đã trở thành một nét đẹp trong văn hóa ẩm thực ở Bình Định.

Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.